Nghề chơi quan họ có tinh mới tường…

“Hát quan họ thì dễ, nhưng để chơi quan họ thì không phải ai cũng làm được”. Đó là chia sẻ của anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là”quan họ” nhất vùng bắc sông Cầu.

Nhà của anh Hiệp nằm sâu tít trong một cái ngõ nhỏ ở giữa Thổ Hà, ngôi làng cổ nằm trong không gian bảo tồn di sản quan họ. Từ ngõ nhà anh đâm thẳng một quãng tầm vài chục mét là ra ngay bờ sông Cầu.

Chẳng biết có phải  vì thế hay không, mà những câu hát quê hương đã làm anh say mê ngay lúc còn bé, từ khi nghe các cụ hát quan họ trong những hội hè đình đám thôn quê, “dẫu lúc đó còn chưa hiểu quan họ là gì.”

Anh kể, khi lớn lên, anh đi khắp các hội làng vùng Kinh Bắc để nghe hát và học hát các câu quan họ, rồi tìm đến các cụ nghệ nhân xin “học nghề,” cho đến khi nhập ngũ lên biên giới phía Bắc vào năm 1978 mới thôi.

“Lúc đầu nhiều cụ không nhận, bởi nhìn mình còn trẻ quá, người ta không tin là mình muốn học thật. Nhưng cứ thành tâm thể hiện tấm lòng của mình, thì dần các cụ cũng hiểu và truyền đạt hết cho,” Anh Hiệp nói.

Chính niềm đam mê  và lòng khao khát đó đã giúp anh có được một bộ sưu tập những câu hát quan họ cổ thuộc loại độc nhất vô nhị vùng Kinh Bắc, với hơn 200 câu. Từng đó cũng đủ vốn liếng cho anh đi “chơi quan họ” khắp nơi trong khu vực sông Cầu mà không thua kém ai.

“Trong quan họ người ta gọi mỗi bài hát là một câu, người chơi quan họ giỏi thì càng phải biết được nhiều câu. Bởi đến khi hát đấu với “bọn quan họ” khác, nếu anh không tìm tòi, hát đối lại được với bên bạn, thì thua,” Anh Hiệp phân tích.

 

Anh Nguyễn Phú Hiệp, liền anh có chất giọng được khen là”quan họ” nhất vùng bắc sông Cầu

Quan họ không dễ dãi

Anh Nguyễn Phú Hiệp hiện đang là chủ tịch câu lạc bộ quan họ của làng Thổ Hà, gồm khoảng 30 thành viên. Anh bảo, gọi là câu lạc bộ cho đúng tính Đoàn thể, chứ theo cách gọi của cha ông thì gọi là “bọn quan họ” thôi, “dù cái từ “bọn” bây giờ nghe nó không được lịch sự cho lắm.

Dẫu không được  “PR” hình ảnh mạnh như quan họ ở Bắc Ninh, nhưng quan họ Thổ Hà vẫn tự hào là giữ được những nét đặc trưng nhất của giọng hát cha ông từ ngày xưa.

“Chúng tôi trân trọng, không dễ dãi với câu hát. Khi nào hát cũng phải đảm bảo giữ được 80-90% những gì mà các cụ nghệ nhân truyền dạy. Tức là phải phát triển được đúng chất “e giọng” cho từng người, phải đầy đủ vang-rền-nền-nẩy. Thế mới bảo là nghề chơi thì lắm công phu,” Anh Hiệp cười.

Không dễ dãi, cũng có nghĩa là không chiều lòng được tất cả mọi người để biến tấu quan họ sao cho “lọt tai” hơn.

“Chúng tôi yêu quan họ  để quan họ yêu chúng tôi. Những khi nào đi hát phục vụ cho bà con hay các sự kiện văn hóa, có ý nghĩa thì kể cả không có thù lao thì chúng tôi cũng đi. Nhưng những nơi nào mà đặt nặng vấn đề tiền nong để bắt chúng tôi hát khác chất quan họ đi, thì mấy cũng từ chối. Thế nên mới nói người ta vừa yêu vừa ghét bọn quan họ Thổ Hà là thế,” Anh Hiệp nói.

Người Thổ Hà  vẫn chỉ chơi quan họ, chứ không phải là  hát. Chơi là hát bằng cả trái tim, hát để thỏa niềm đam mê, để trút hết nỗi lòng của người quan họ, chứ không phải là để kiếm tiền.

Thế nên ngoài  “xuân thu nhị kì,” hai đợt lễ hội chính, thì các liền anh, liền chị vẫn ngồi hát cho nhau nghe vào những đêm trăng thanh gió mát hay lúc nông nhàn. “Quan họ ở đây bình thường như hơi thở, chúng tôi hát chẳng theo định kì logic nào cả,” Anh Hiệp cho biết.

Anh bảo, quan họ  để chơi mới hay, nhưng nhiều người cứ không nhận ra điều đó, họ lại thấy quan họ như  là một nghề hái ra danh, bóc ra tiền. Thế nên nhiều khi họ làm cho quan họ chẳng còn là quan họ nữa.

Bài hát cổ thì  họ tân trang thành nhạc Pop, đủ trống chiêng xập xènh, gọt dũa cho vừa tai khán giả. Hát quan họ là để giao lưu, giao duyên, thì lại bắt trẻ con đi hát xin tiền. Rồi lại cho quan họ đi hát đồng ca, lập kỉ lục này kỉ lục kia. Những người tự nhận là hiểu quan họ rốt cuộc lại đi ngược lại tất cả những truyền thống của quan họ. (Anh Hiệp đang nhắc đến hội Lim ở Bắc Ninh, tổ chức vào tháng 2/2012 vừa qua-phóng viên).

“Tôi rất mừng khi UNESCO công nhận quan họ là di sản văn hóa thế giới, bởi sau đó thì độ lan tỏa của quan họ là rất lớn. Đến nay đã có tới 52 làng được vào danh sách không gian bảo tồn di sản. Nhưng mừng mà lo. Bởi nếu người ta cứ tiếp tục phổ biến, quần chúng hóa quan họ kiểu này, thì trước sau nó cũng trở thành người khổng lồ không xương. To đấy, nhưng cũng dễ sụp, bởi không gìn giữ được cái gốc cốt lõi,” Anh Hiệp chia sẻ.

 

Hơn 3000 người đến hát quan họ để xác lập kỷ lục. Ảnh: Huyvme

“Yêu nhau trở lại xuân tình…”

Văn hóa cũng như  tình yêu, có lúc thăng lúc trầm, nhưng tựu trung lại nếu tiếp cận bằng trái tim trong sáng, vô tư, thì nó sẽ được trường tồn. Người ta không thể khiến ai đó thích quan họ bằng cách biến nó thành một loại hình nghệ thuật khác, bởi lúc đó quan họ đâu phải là quan họ nữa. Nó chẳng khác nhau đặt bẫy nhau để mà yêu.

“Riêng tôi, tôi vẫn tin có nhiều người yêu quan họ bởi những nét độc đáo riêng của nó, chứ không phải thành thứ này thứ kia,” Anh Hiệp nói.

Anh kể khi còn  ở quân ngũ, với dăm chục câu quan họ dắt lưng làm vốn, tha hồ cho anh đi làm công tác dân vận trong đồng bào dân tộc, bởi họ mê quan họ lắm, đặc biệt là người Tày. Vào bản hát quan họ cho đồng bào nghe, lại nghe đồng bào hát những giai điệu của dân tộc mình, tưởng chẳng có sự giao lưu, đoàn kết nào hữu hiệu như bằng tiếng hát.

Quan họ còn theo anh sang tận trời Tây, trong chuyến lưu diễn của đoàn quan họ Bắc Giang ở Pháp phục vụ kiều bào.

“Tôi không dám nhận là hay, nhưng tôi tin đã đển lại ấn tượng tốt cho kiều bào. Khi hát giã bạn rồi, thì cả hội trường vẫn yêu cầu đi ra để họ chào và vỗ tay một lần nữa. Khi đó chúng tôi rất xúc động, nhiều người khóc, và bản thân chúng tôi là những nghệ sĩ cũng không cầm được nước mắt. Chúng tôi lúc đó đã hát bằng tất cả tấm lòng,” Anh Hiệp hồi tưởng về buổi biểu diễn cuối cùng ở Lyon, Pháp.

“Nhiều người bảo với tôi rằng, thanh niên ngày nay chẳng ai còn mê quan họ. Nói thế là không phải. Ở đâu thì tôi không biết, chứ ở Thổ Hà này trai gái tuổi cập kê vẫn còn thích nghe quan họ lắm. Lúc bận đến kì tổ chức hội hát mà chưa thông báo, là tụi nó xúm đến hỏi ngay,” Anh Hiệp cười.

“Chúng nó bảo, nghe các chú hát quan họ, chúng cháu lại thấy…yêu nhau. Tôi nghe mà cũng vui, bởi bọn quan họ chúng tôi vẫn thường nói đùa là hát quan họ là để cho hàng xóm yêu nhau mà.”

Cắt tóc để nuôi quan họ

Dẫu là một liền anh có tiếng tăm nhất vùng Kinh Bắc, anh Hiệp không giàu lên nhờ quan họ. Gia đình ba người của anh sống trong một ngôi nhà gạch đã cũ, đơn sơ với không gian tương đối chật chội. Trong nhà đẹp nhất là bộ áo tứ thân và mấy tấm bằng khen, còn lại chỉ có một cái ti vi 14 inch và một bộ đầu đĩa nho nhỏ. Khách đến chơi ngồi trải chiếu với chủ nhà để uống trà nói chuyện.

So với tiêu chuẩn những ngôi nhà trong làng Thổ Hà tôi đã vào thăm, phải nói là nhà anh nghèo.

Như các gia đình khác trong làng, nhà  anh cũng làm bánh đa nem. Anh Hiệp ngoài nghề làm bánh đa ra, còn chịu khó ra ngoài cổng làng cắt tóc kiếm thêm đồng ra đồng vào cho gia đình.

“Tôi chả dấu nghề, nghề cắt tóc của tôi làm đẹp cho đời, tôi lấy nghề cắt tóc để chơi quan họ,” Anh Hiệp giãi bày.

Anh bảo, dạo gần đây cũng có  nhiều người mới đi hát, như đi hát đám cưới ấy, nhưng anh không chịu. “Người ta chịu trả một triệu một lần diễn đấy, nhưng tôi thà ở nhà cắt tóc cả ngày lấy 100 nghìn còn hơn. Tôi nói có trả 10 triệu tôi cũng không đi. Tôi không muốn làm mất đi cái tính tự tôn của người chơi quan họ.”

“Xưa cha ông ta đã dạy thế này:

Nghèo tiền nghèo bạc không lo

Nghèo nhân nghèo nghĩa mới cho là nghèo

Người quan họ vun đắp cho mình nhân nghĩa rất là dày, và cả cách sống với nhau sao cho trọn vẹn nữa. Tôi hát quan họ không sợ ai hay cái gì cả, thích thì hát thôi. Không thể vì vài đồng bạc mà làm hỏng cả mình lẫn di sản của cha ông được.”

 

Khắc Giang
  1. HA XUAN BUN nói:

    DÂN CA QUAN HỌ – NÉT ĐẸP NGÀN ĐỜI CỦA XỨ KINH BẮC

    Trên dải đất hình chữ S thân yêu, trải dài từ Băc- Trung- Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị đến nông thôn đều có những điệu hát của nhân dân. Trong gia đình có tiếng hát ru, tiếng hát quy tơ, ngoài xã hội có tiếng hát giao duyên tình tứ của nam nữ thanh niên, có tiếng hát lao động, có tiếng hát của những hội hè đình đám với làn điệu vô cùng phong phú. “Ở đâu có sự sống, có người lao động, có làng xóm thân yêu, có ruộng đồng, sống nước, đồi bãi, rừng rú là ở đó có tiếng hát, tiếng hò” (Cao Huy Đỉnh). Đó là những làn điệu dân ca từ lâu đã gắn bó với đời sống con người như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Mỗi một vùng miền trên đất nước ta lại gắn với một loại hình dân ca độc đáo, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa và phong cách của chính vùng miền đã sản sinh ra nó.
    Nói đến Kinh Bắc- Bắc Ninh, một vùng đất để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong kí ức mỗi người dân Việt. Kinh Bắc từ xưa đã mang trong mình chất thơ của một xứ sở cố kính bậc nhất đất nước, một vùng quê giàu truyền thống văn hóa, truyền thống khoa bảng. Đặc biệt vùng đất này đã hình thành và phát triển một loại hình dân ca vô cùng đặc sắc: Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Từ lâu, dân ca quan họ đã được đánh giá là là một loại hình nghệ thuật đạt tới trình độ cao về nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật lời ca và nghệ thuật âm nhạc. Dân ca quan họ chính là vẻ đẹp hiện hữu, được kết tinh từ những nét đẹp ngàn đời của quê hương Kinh Bắc.
    Dân ca quan họ Bắc Ninh được hình thành khá lâu đời, do cộng đồng người Việt (Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay của Việt Nam sáng tạo ra. Đến đầu thế kỉ XX, Dân ca quan họ Bắc Ninh được thực hành ở 49 làng mà cộng đồng xác định là làng quan họ cổ, 44 làng hiện nay thuộc tỉnh Bắc Ninh: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài trung,Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám (huyện Tiên Du); Tam Sơn, Tiêu (huyện Từ Sơn); Đông Mai, Đông Yên (huyện Yên Phong); Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ô, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khà Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An,Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ô, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn (thành phố Bắc Ninh). Có 05 làng thuộc tỉnh Bắc Giang: Giá Sơn, Hữu Nghi, Nội Ninh, Mai Vũ, Sen Hồ (huyện Việt Yên). Ngoài ra ở 13 làng: Đình Cả. Đông Long, Khả Lý Thượng, Núi Hiếu, Mật Ninh, Quang Biểu, Tam Tầng, Thần Chúc, Tiên Lát Hạ, Tiên Lát Thượng, Thổ Hà, Trung Đồng, Vân Cốc (huyện Việt Yên) của tỉnh Bắc Giang, Dân ca quan họ Bắc Ninh cũng được thực hành. Đây là những làng nằm trong vùng lan tỏa của di sản này.
    Người xưa có câu:
    “Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ
    Ngoài năm thành chỉ có Bắc Ninh
    Yêu nhau trở lại xuân đình
    Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”.
    “Chơi quan họ” tuy là lối chơi dân dã nhưng đòi hỏi cũng lắm công phu. Đó lối chơi có quy củ, nề nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… Nhưng không chỉ có thế, quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng khoáng trong những canh hát ngày xuân. Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa ngàn đời. “Những lần đi hát cũng có nghĩa là thăm hỏi, chia sẻ lẫn nhau. Vào cuộc hát là bộc lộ những điều nghĩa tình, son sắt, ân cần trước sau; vừa tôn trọng, vừa lịch sự; ra khỏi cuộc hát là sự chung lưng góp sức làm ăn, lo toan như anh em một nhà. Trọng tài và trọng tình tạo nên sự quý mến sâu sắc giữa các cộng đồng làng xóm vùng Quan họ” (Nguyễn Bích Hà). Trong nghệ thuật hát quan họ thì yếu tố vang, rền, nền, nảy là không thể thiếu được và đòi hỏi người hát phải trải qua một quá trình rèn luyện rất kỳ công mới đạt đến độ chuẩn đó.
    Trong sinh hoạt Quan họ có một tập tục phổ biến đó là “Tục kết bạn Quan họ”. Điều này tạo nên sự khác biệt đối với các loại hình dân ca ở các vùng miền khác. Chẳng hạn như ở Hát trống quân vùng Đồng bằng Băc bộ thì người hát không quen biết nhau, không than thiết nhau. Trong cuộc thi, người hát được “Ban tổ chức” sắp xếp một cách ngẫu nhiên theo danh sách đăng ký. Vì thế mà phần giao tiếp gần như không có. Hay hát Phường Vải (Dân ca Nghệ Tĩnh) thì cũng phải qua chặng hát dạo, còn như ở Quan họ, người ta ca với nhau là đã tham gia cuộc chơi của “bọn đích là để Quan họ” kết bạn với nhau, quan hệ thường xuyên với nhau trong cuộc sống thường nhật. Trong hát Trông Quân, mục đích hát là để phân tài cao thấp, còn đối với Quan họ, mục đích người Quan họ đi hát là để kết tình, kết nghĩa, gặp nhau là để chơi, để tình cảm thêm gắn bó. Bên này ca lên những lời ca Quan họ là để biểu hiện tình cảm, tâm tư của mình cho bạn nghe, rồi lại trở thành khan giả để nghe bạn mình thể hiện. Nếu có tán thưởng cũng là hai bên tự khen lẫn nhau, bộc lộ thái độ kính mến, trân trọng lẫn nhau qua những lời khen.
    Quan họ không chỉ là nghệ thuật hát mà nó còn là văn hóa, là “ứng xử” khéo léo, tế nhị kín đáo của người dân Kinh Bắc, “mỗi khi khách đến chơi nhà”, không chỉ “rót nước pha trà” mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: “Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng”. Trong lời mời cơm cũng rất đầm ấm: ”đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say”. Hay như: “Tay nâng đĩa muối, đĩa gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”. Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát “Người ơi người ở đừng về/ Người về em vẫn khóc thầm/ Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa…” hay là “Bây giờ kẻ bắc người nam/ Trăm năm chỉ có một ngày/ Đàn cầm ai nỡ dứt dây cho đành/ Quan họ nghỉ chúng em ra về…” tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ “Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này… Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin”… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết “Đến hẹn lại lên”… trong mùa hội tới.
    Thế mới biết người Quan họ quý trọng bạn đến nhường nào. Đặc biệt, người Quan họ dùng hình tượng “miếng trầu” như một thứ “ngôn ngữ thầm” để bày tỏ tiếng lòng, tình nghĩa của mình với ban. Việc mời trầu của người Quan họ rất lịch thiệp, tao nhã, phù hợp với thái độ cung kính bạn, đề cao bạn. Chúng ta hãy lắng nghe người Quan họ mời nhau xơi trầu:
    “- Nhất niên, nhất lệ, năm tới, tháng xuan, an hem chúng em có cơi trầu mời đương Quan họ.
    - Chị em chúng em còn cả sữa non măng, ăn giầu đã vậy biết nói thế nào.
    - Giầu này trong chap mở ra
    Giấu thầy giấu mẹ đem ra mời người
    Xin mời đương quan họ người xơi khẩu giầu rồi cho an hem chúng em được học đòi đôi lối”
    Miếng trầu của người Quan họ cũng phải là “miếng trầu têm cánh phượng” rất cầu kỳ, lời mời trầu cũng rất hoa mỹ, tao nhã, giàu chất trữ tình. Vì thế, miếng “trầu têm cánh phượng” đã trở thành một biểu tượng của nét đẹp văn hóa vùng quê xứ Bắc.
    Khi xưng hô với nhau, lúc nào người quan họ cũng nhận mình làm em, cái tôi cá nhân nhường chỗ cho sự kính trọng, khiêm nhường. Nhờ vào những canh hát quan họ mà những người nông dân chân lấm tay bùn đã thoát ra khỏi sự vất vả, cực nhọc để lạc vào thế giới của thần tiên… Câu hát không phải là “trót lưỡi đầu môi” mà phải chơi, phải hát sao cho thể hiện được lòng mình, cái tình của người hát trong đó.
    Trang phục của người Quan họ gắn liền với trang phục truyền thống miền Bắc nước ta. Song người quan họ cũng đã cải tiến nó cho phù hợp với quan điểm thẩm mĩ của mình. Nhìn chung, trang phục của người Quan họ mang vẻ đẹp nền nã, trang trọng. Nữ thì áo mớ ba mớ bảy, đầu chit khăn mỏ quạ, tay cầm nón thúng quai thao. Nam thì áo the khăn xếp và tay cầm ô lục soạn.
    Trang phục của người Quan họ cũng thể hiện sự ảnh hưởng của Nho giáo. Các liền chị Quan họ khi chit khăn nắn “mỏ quạ” theo hình chữ “Nhân”, còn các liền anh thì vẫn khăn xếp cũng phải vấn sao cho hai nếp đàu tiên phải tạo thành hình chữ Nhân. Điều này biểu hiện quan điểm thẩm mĩ của người Quan họ: lấy chữ “Nhân” làm đầu, coi trọng tình người, đề cao nhân nghĩa.
    Âm nhạc của dân ca Quan họ là thứ âm nhạc trữ tình say đắm. Âm nhạc dân ca Quan họ không phản ánh tâm trạng uất ức, căm hờn, nếu có tỏ ý trách móc trong yêu thương, dù có xót xa nhưng vẫn nhẹ nhàng trìu mến. Âm nhạc Quan họ ít có những quãng cách chói tai, đột ngột, tiết tấu thường mềm mại, uyển chuyển, chủ yếu diễn tả tâm tư yêu mến, nhớ thương. Vì thế người Quan họ dùng nhiều âm lướt, âm nhấn, âm lặp…trong giai điệu. Theo Tô Ngọc Thanh, Quan họ là là một hiện tượng âm nhac phong phú, đa dạng, là “đỉnh cao của nền dân ca Việt Nam”.
    Ngày nay, vùng Kinh Bắc còn có Hội hát quan họ đầu xuân, hát trong hội làng, trong các ngày lễ tết của dân tộc… để các liền anh, liền chị thi thố tài năng và phục vụ cho công chúng. Những làn điệu dân ca quan họ không chỉ là niềm tự hào, là vốn riêng của người dân Kinh Bắc, mà còn là niềm kiêu hãnh, là nét đẹp văn hóa rất riêng của người dân Việt Nam. Vào lúc 19.55 (giờ Việt Nam, tức 16.55 giờ Abu Dhabi), Quan họ đã được Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể long trọng công bố là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại. Quan họ được Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang phục.
    Tuy nhiên, hiện nay dưới tác động của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa cùng với sự du nhập của nhiều nền văn hóa sự quan tâm của giới trẻ đối với Quan họ ngày một ít đi. Tình yêu đối với những làn điệu dân ca văn hóa dân tộc bị thay thế bởi những dòng nhạc hiện đại. Số lượng người trẻ tuổi biết, nghe và hát quan họ giảm đi nhanh chóng.
    Bên cạnh đó đội ngũ nghệ nhân của quan họ cổ càng ngày càng ít đi theo thời gian, những người tâm huyết với quan họ không nhiều. Đội ngũ nghệ sỹ của đoàn quan họ phân tán không tập trung, quan điểm đã bị tác động có những suy nghĩ bị thương mại hoá.
    Việc đào tạo thế hệ kế cận gặp nhiều khó khăn, ít trung tâm và câu lạc bộ, hát quan họ chỉ hạn chế trong một khu vực một địa bàn cụ thể. đặc biệt chưa có nhiều hoạt động truyền thông đưa quan họ đến với những nơi những vùng khó khăn, những khu vực khác trên lãnh thổ việt nam.
    Quá trình xã hội hoá bảo tồn phát triển quan họ còn sơ khai chưa có nhiều người có tâm huyết phát triển bằng những loại hình cụ thể về văn hoá và du lịch quan họ, chưa có công ty truyền thông cho quan họ. Hệ thống truyền thông về quan họ chưa nhiều, chưa có nhiều trang Web chuyên sâu về quan họ.
    Trước một thực trạng đó là Quan họ đang dần bị lãng quên, nét đẹp tinh tế ngàn đời của người dân đất Việt đang dần mai một, yêu cầu được đặt ra đó là làm thế nào để co thể giữ gìn, bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ- sự kết vô cùng quý giá của nền văn hóa dân tộc?
    Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm và những chính sách khuyến khích bảo tồn và phát triển quan họ gìn giữ những giá trị của quan họ cổ. Tuy nhiên, trách nhiệm bảo tồn dân ca Quan họ không chỉ dựng lại trên phạm vi lãnh thổ tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang mà còn vượt lên trên hết đó là trách nhiệm của cả dân tộc việt nam. Bên cạnh đó trách nhiệm của thế hệ trẻ đặc biệt là thế hệ người Kinh Bắc phải phát triển và gìn giữ cho thế hệ sau bằng những việc làm cụ thể.
    Hoạt động văn hoá đưa cần được mở rộng hơn nữa bằng các hình thức tổ chức nhiều buổi lưu diễn , mở rộng du lịch tới các vùng Quan họ. Vận động đưa ca dao, dân ca vào chương trình giảng dạy phổ thông. Lập nhiều trang web tìm kiếm ca dao dân ca, dạy hát dân ca trên các phương tiện truyền thông. Có như vậy mới mở rộng và giới thiệu dân ca quan họ đến khắp các vùng miền trên cả nước. Khơi dậy tình yêu và lòng tự hào của người dân đất Việt với một làn điệu dân ca tinh tế mang đậm bản sắc dân tộc.
    Với chính sách bảo tồn, phát huy nói trên cùng với tình yêu đói với giá trị tình hoa văn hóa dân tộc, hy vọng rằng, dân ca Quan họ sẽ luôn giữ gìn được vẻ đẹp truyền thống vốn có, được giới thiệu tới bạn bè năm châu, xứng đáng là một di sản văn hóa phi vật thể được Unesco công nhận và tôn vinh.

  2. BUN DONG NAI nói:

    DÂN CA QUAN HỌ – NÉT ĐẸP NGÀN ĐỜI CỦA XỨ KINH BẮC

    Trên dải đất hình chữ S thân yêu, trải dài từ Băc- Trung- Nam, từ đồng bằng đến miền núi, từ thành thị đến nông thôn đều có những điệu hát của nhân dân. Trong gia đình có tiếng hát ru, tiếng hát quy tơ, ngoài xã hội có tiếng hát giao duyên tình tứ của nam nữ thanh niên, có tiếng hát lao động, có tiếng hát của những hội hè đình đám với làn điệu vô cùng phong phú. “Ở đâu có sự sống, có người lao động, có làng xóm thân yêu, có ruộng đồng, sống nước, đồi bãi, rừng rú là ở đó có tiếng hát, tiếng hò” (Cao Huy Đỉnh). Đó là những làn điệu dân ca từ lâu đã gắn bó với đời sống con người như một món ăn tinh thần không thể thiếu. Mỗi một vùng miền trên đất nước ta lại gắn với một loại hình dân ca độc đáo, thể hiện rõ nét đặc trưng văn hóa và phong cách của chính vùng miền đã sản sinh ra nó.
    Nói đến Kinh Bắc- Bắc Ninh, một vùng đất để lại nhiều dấu ấn tốt đẹp trong kí ức mỗi người dân Việt. Kinh Bắc từ xưa đã mang trong mình chất thơ của một xứ sở cố kính bậc nhất đất nước, một vùng quê giàu truyền thống văn hóa, truyền thống khoa bảng. Đặc biệt vùng đất này đã hình thành và phát triển một loại hình dân ca vô cùng đặc sắc: Dân ca Quan họ Bắc Ninh. Từ lâu, dân ca quan họ đã được đánh giá là là một loại hình nghệ thuật đạt tới trình độ cao về nghệ thuật diễn xướng, nghệ thuật lời ca và nghệ thuật âm nhạc. Dân ca quan họ chính là vẻ đẹp hiện hữu, được kết tinh từ những nét đẹp ngàn đời của quê hương Kinh Bắc.
    Dân ca quan họ Bắc Ninh được hình thành khá lâu đời, do cộng đồng người Việt (Kinh) ở 49 làng quan họ và một số làng lân cận thuộc hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang hiện nay của Việt Nam sáng tạo ra. Đến đầu thế kỉ XX, Dân ca quan họ Bắc Ninh được thực hành ở 49 làng mà cộng đồng xác định là làng quan họ cổ, 44 làng hiện nay thuộc tỉnh Bắc Ninh: Bái Uyên, Duệ Đông, Hạ Giang, Hoài Thị, Hoài trung,Lũng Giang, Lũng Sơn, Ngang Nội, Vân Khám (huyện Tiên Du); Tam Sơn, Tiêu (huyện Từ Sơn); Đông Mai, Đông Yên (huyện Yên Phong); Bồ Sơn, Châm Khê, Cổ Mễ, Dương Ô, Đẩu Hàn, Điều Thôn, Đông Xá, Đỗ Xá, Hòa Đình, Hữu Chấp, Khà Lễ, Khúc Toại, Ném Đoài, Ném Sơn, Ném Tiền, Niềm Xá, Phúc Sơn, Thanh Sơn, Thị Chung, Thị Cầu, Thọ Ninh, Thượng Đồng, Trà Xuyên, Vệ An,Viêm Xá, Xuân Ái, Xuân Đồng, Xuân Ô, Xuân Viên, Y Na, Yên Mẫn (thành phố Bắc Ninh). Có 05 làng thuộc tỉnh Bắc Giang: Giá Sơn, Hữu Nghi, Nội Ninh, Mai Vũ, Sen Hồ (huyện Việt Yên). Ngoài ra ở 13 làng: Đình Cả. Đông Long, Khả Lý Thượng, Núi Hiếu, Mật Ninh, Quang Biểu, Tam Tầng, Thần Chúc, Tiên Lát Hạ, Tiên Lát Thượng, Thổ Hà, Trung Đồng, Vân Cốc (huyện Việt Yên) của tỉnh Bắc Giang, Dân ca quan họ Bắc Ninh cũng được thực hành. Đây là những làng nằm trong vùng lan tỏa của di sản này.
    Người xưa có câu:
    “Trong sáu tỉnh người đà chưa tỏ
    Ngoài năm thành chỉ có Bắc Ninh
    Yêu nhau trở lại xuân đình
    Nghề chơi quan họ có tinh mới tường”.
    “Chơi quan họ” tuy là lối chơi dân dã nhưng đòi hỏi cũng lắm công phu. Đó lối chơi có quy củ, nề nếp, buộc người chơi phải tuân thủ theo luật chơi gồm nhiều thể loại: hát đối, hát giao duyên, hát canh, hát kết chạ, hát lễ hội, hát mời nước, mời trầu… Nhưng không chỉ có thế, quan họ còn có lối hát tự do, ngẫu hứng thể hiện sự phóng khoáng trong những canh hát ngày xuân. Hát để thay cho nói, tâm sự gửi cả vào trong câu hát, đó cũng là cái tình của người quan họ đã thấm thía, lan tỏa ngàn đời. “Những lần đi hát cũng có nghĩa là thăm hỏi, chia sẻ lẫn nhau. Vào cuộc hát là bộc lộ những điều nghĩa tình, son sắt, ân cần trước sau; vừa tôn trọng, vừa lịch sự; ra khỏi cuộc hát là sự chung lưng góp sức làm ăn, lo toan như anh em một nhà. Trọng tài và trọng tình tạo nên sự quý mến sâu sắc giữa các cộng đồng làng xóm vùng Quan họ” (Nguyễn Bích Hà). Trong nghệ thuật hát quan họ thì yếu tố vang, rền, nền, nảy là không thể thiếu được và đòi hỏi người hát phải trải qua một quá trình rèn luyện rất kỳ công mới đạt đến độ chuẩn đó.
    Trong sinh hoạt Quan họ có một tập tục phổ biến đó là “Tục kết bạn Quan họ”. Điều này tạo nên sự khác biệt đối với các loại hình dân ca ở các vùng miền khác. Chẳng hạn như ở Hát trống quân vùng Đồng bằng Băc bộ thì người hát không quen biết nhau, không than thiết nhau. Trong cuộc thi, người hát được “Ban tổ chức” sắp xếp một cách ngẫu nhiên theo danh sách đăng ký. Vì thế mà phần giao tiếp gần như không có. Hay hát Phường Vải (Dân ca Nghệ Tĩnh) thì cũng phải qua chặng hát dạo, còn như ở Quan họ, người ta ca với nhau là đã tham gia cuộc chơi của “bọn đích là để Quan họ” kết bạn với nhau, quan hệ thường xuyên với nhau trong cuộc sống thường nhật. Trong hát Trông Quân, mục đích hát là để phân tài cao thấp, còn đối với Quan họ, mục đích người Quan họ đi hát là để kết tình, kết nghĩa, gặp nhau là để chơi, để tình cảm thêm gắn bó. Bên này ca lên những lời ca Quan họ là để biểu hiện tình cảm, tâm tư của mình cho bạn nghe, rồi lại trở thành khan giả để nghe bạn mình thể hiện. Nếu có tán thưởng cũng là hai bên tự khen lẫn nhau, bộc lộ thái độ kính mến, trân trọng lẫn nhau qua những lời khen.
    Quan họ không chỉ là nghệ thuật hát mà nó còn là văn hóa, là “ứng xử” khéo léo, tế nhị kín đáo của người dân Kinh Bắc, “mỗi khi khách đến chơi nhà”, không chỉ “rót nước pha trà” mời khách, mà cùng với đó là những câu hát thắm đượm nghĩa tình: “Mỗi khi khách đến chơi nhà/ đốt than quạt nước pha trà mời người xơi/ trà này quý lắm người ơi/ Mỗi người một chén cho tôi vui lòng”. Trong lời mời cơm cũng rất đầm ấm: ”đôi tay nâng chén rượu đào, đổ đi thì tiếc, uống vào thì say”. Hay như: “Tay nâng đĩa muối, đĩa gừng, Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”. Quan họ uống chén rượu mừng xuân, mừng hội, vui bầu, vui bạn… rồi ca xướng cho tan canh mãn võ, cho tàn đêm rạng ngày, rồi các làn điệu chia tay giã bạn đầy quyến luyến trong câu hát “Người ơi người ở đừng về/ Người về em vẫn khóc thầm/ Đôi bên vạt áo ướt đầm như mưa…” hay là “Bây giờ kẻ bắc người nam/ Trăm năm chỉ có một ngày/ Đàn cầm ai nỡ dứt dây cho đành/ Quan họ nghỉ chúng em ra về…” tàn canh, giã hội rồi mà quan họ vẫn còn ngậm ngùi tiếc nhớ “Người về tôi vẫn ngậm ngùi, để thương, để nhớ cho tôi thế này… Người về tôi chẳng dám nài, áo trong người mặc, áo ngoài người để làm tin”… Và để rồi kết thúc bằng những lời hứa hẹn tha thiết “Đến hẹn lại lên”… trong mùa hội tới.
    Thế mới biết người Quan họ quý trọng bạn đến nhường nào. Đặc biệt, người Quan họ dùng hình tượng “miếng trầu” như một thứ “ngôn ngữ thầm” để bày tỏ tiếng lòng, tình nghĩa của mình với ban. Việc mời trầu của người Quan họ rất lịch thiệp, tao nhã, phù hợp với thái độ cung kính bạn, đề cao bạn. Chúng ta hãy lắng nghe người Quan họ mời nhau xơi trầu:
    “- Nhất niên, nhất lệ, năm tới, tháng xuan, an hem chúng em có cơi trầu mời đương Quan họ.
    - Chị em chúng em còn cả sữa non măng, ăn giầu đã vậy biết nói thế nào.
    - Giầu này trong chap mở ra
    Giấu thầy giấu mẹ đem ra mời người
    Xin mời đương quan họ người xơi khẩu giầu rồi cho an hem chúng em được học đòi đôi lối”
    Miếng trầu của người Quan họ cũng phải là “miếng trầu têm cánh phượng” rất cầu kỳ, lời mời trầu cũng rất hoa mỹ, tao nhã, giàu chất trữ tình. Vì thế, miếng “trầu têm cánh phượng” đã trở thành một biểu tượng của nét đẹp văn hóa vùng quê xứ Bắc.
    Khi xưng hô với nhau, lúc nào người quan họ cũng nhận mình làm em, cái tôi cá nhân nhường chỗ cho sự kính trọng, khiêm nhường. Nhờ vào những canh hát quan họ mà những người nông dân chân lấm tay bùn đã thoát ra khỏi sự vất vả, cực nhọc để lạc vào thế giới của thần tiên… Câu hát không phải là “trót lưỡi đầu môi” mà phải chơi, phải hát sao cho thể hiện được lòng mình, cái tình của người hát trong đó.
    Trang phục của người Quan họ gắn liền với trang phục truyền thống miền Bắc nước ta. Song người quan họ cũng đã cải tiến nó cho phù hợp với quan điểm thẩm mĩ của mình. Nhìn chung, trang phục của người Quan họ mang vẻ đẹp nền nã, trang trọng. Nữ thì áo mớ ba mớ bảy, đầu chit khăn mỏ quạ, tay cầm nón thúng quai thao. Nam thì áo the khăn xếp và tay cầm ô lục soạn.
    Trang phục của người Quan họ cũng thể hiện sự ảnh hưởng của Nho giáo. Các liền chị Quan họ khi chit khăn nắn “mỏ quạ” theo hình chữ “Nhân”, còn các liền anh thì vẫn khăn xếp cũng phải vấn sao cho hai nếp đàu tiên phải tạo thành hình chữ Nhân. Điều này biểu hiện quan điểm thẩm mĩ của người Quan họ: lấy chữ “Nhân” làm đầu, coi trọng tình người, đề cao nhân nghĩa.
    Âm nhạc của dân ca Quan họ là thứ âm nhạc trữ tình say đắm. Âm nhạc dân ca Quan họ không phản ánh tâm trạng uất ức, căm hờn, nếu có tỏ ý trách móc trong yêu thương, dù có xót xa nhưng vẫn nhẹ nhàng trìu mến. Âm nhạc Quan họ ít có những quãng cách chói tai, đột ngột, tiết tấu thường mềm mại, uyển chuyển, chủ yếu diễn tả tâm tư yêu mến, nhớ thương. Vì thế người Quan họ dùng nhiều âm lướt, âm nhấn, âm lặp…trong giai điệu. Theo Tô Ngọc Thanh, Quan họ là là một hiện tượng âm nhac phong phú, đa dạng, là “đỉnh cao của nền dân ca Việt Nam”.
    Ngày nay, vùng Kinh Bắc còn có Hội hát quan họ đầu xuân, hát trong hội làng, trong các ngày lễ tết của dân tộc… để các liền anh, liền chị thi thố tài năng và phục vụ cho công chúng. Những làn điệu dân ca quan họ không chỉ là niềm tự hào, là vốn riêng của người dân Kinh Bắc, mà còn là niềm kiêu hãnh, là nét đẹp văn hóa rất riêng của người dân Việt Nam. Vào lúc 19.55 (giờ Việt Nam, tức 16.55 giờ Abu Dhabi), Quan họ đã được Ủy ban Liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể long trọng công bố là Di sản phi vật thể đại diện của Nhân loại. Quan họ được Hội đồng chuyên môn của UNESCO đánh giá cao về giá trị văn hóa đặc biệt về tập quán xã hội, nghệ thuật trình diễn, kỹ thuật hát, phong cách ứng xử văn hóa, bài bản, ngôn từ và cả về trang phục.
    Tuy nhiên, hiện nay dưới tác động của xu thế hội nhập và toàn cầu hóa cùng với sự du nhập của nhiều nền văn hóa sự quan tâm của giới trẻ đối với Quan họ ngày một ít đi. Tình yêu đối với những làn điệu dân ca văn hóa dân tộc bị thay thế bởi những dòng nhạc hiện đại. Số lượng người trẻ tuổi biết, nghe và hát quan họ giảm đi nhanh chóng.
    Bên cạnh đó đội ngũ nghệ nhân của quan họ cổ càng ngày càng ít đi theo thời gian, những người tâm huyết với quan họ không nhiều. Đội ngũ nghệ sỹ của đoàn quan họ phân tán không tập trung, quan điểm đã bị tác động có những suy nghĩ bị thương mại hoá.
    Việc đào tạo thế hệ kế cận gặp nhiều khó khăn, ít trung tâm và câu lạc bộ, hát quan họ chỉ hạn chế trong một khu vực một địa bàn cụ thể. đặc biệt chưa có nhiều hoạt động truyền thông đưa quan họ đến với những nơi những vùng khó khăn, những khu vực khác trên lãnh thổ việt nam.
    Quá trình xã hội hoá bảo tồn phát triển quan họ còn sơ khai chưa có nhiều người có tâm huyết phát triển bằng những loại hình cụ thể về văn hoá và du lịch quan họ, chưa có công ty truyền thông cho quan họ. Hệ thống truyền thông về quan họ chưa nhiều, chưa có nhiều trang Web chuyên sâu về quan họ.
    Trước một thực trạng đó là Quan họ đang dần bị lãng quên, nét đẹp tinh tế ngàn đời của người dân đất Việt đang dần mai một, yêu cầu được đặt ra đó là làm thế nào để co thể giữ gìn, bảo tồn và phát huy dân ca Quan họ- sự kết vô cùng quý giá của nền văn hóa dân tộc?
    Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều quan tâm và những chính sách khuyến khích bảo tồn và phát triển quan họ gìn giữ những giá trị của quan họ cổ. Tuy nhiên, trách nhiệm bảo tồn dân ca Quan họ không chỉ dựng lại trên phạm vi lãnh thổ tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang mà còn vượt lên trên hết đó là trách nhiệm của cả dân tộc việt nam. Bên cạnh đó trách nhiệm của thế hệ trẻ đặc biệt là thế hệ người Kinh Bắc phải phát triển và gìn giữ cho thế hệ sau bằng những việc làm cụ thể.
    Hoạt động văn hoá đưa cần được mở rộng hơn nữa bằng các hình thức tổ chức nhiều buổi lưu diễn , mở rộng du lịch tới các vùng Quan họ. Vận động đưa ca dao, dân ca vào chương trình giảng dạy phổ thông. Lập nhiều trang web tìm kiếm ca dao dân ca, dạy hát dân ca trên các phương tiện truyền thông. Có như vậy mới mở rộng và giới thiệu dân ca quan họ đến khắp các vùng miền trên cả nước. Khơi dậy tình yêu và lòng tự hào của người dân đất Việt với một làn điệu dân ca tinh tế mang đậm bản sắc dân tộc.
    Với chính sách bảo tồn, phát huy nói trên cùng với tình yêu đói với giá trị tình hoa văn hóa dân tộc, hy vọng rằng, dân ca Quan họ sẽ luôn giữ gìn được vẻ đẹp truyền thống vốn có, được giới thiệu tới bạn bè năm châu, xứng đáng là một di sản văn hóa phi vật thể được Unesco công nhận và tôn vinh.

Viết thảo luận

Công ty cổ phần văn hoá và du lịch Kinh Bắc.

Địa chỉ: 54 Nguyễn Trãi – TP Bắc Ninh - Bắc Ninh.

Điện thoại: 0241.3813233 - FAX: 0241.3812369.

Hotline: 0963 300 456 / 0966 567 686 - E-mail: info@quanho.com.vn.

Chỉ đạo nghệ thuật: NSND Thúy Hường